Tin Nóng

Tập trung đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án nguồn và lưới điện quan trọng trong năm 2022

Ngày 14/01, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022 theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.

HỆ THỐNG ĐIỆN ĐỨNG ĐẦU KHU VỰC ASEAN

Theo báo cáo tại hội nghị, Tổng giám đốc EVN Trần Đình Nhân, cho biết tính đến cuối năm 2021, tổng công suất lắp đặt nguồn điện toàn hệ thống đạt 76.620MW, tăng gần 7.500MW so với năm 2020. Trong đó, tổng công suất các nguồn điện năng lượng tái tạo (gió, mặt trời) là 20.670MW, tăng 3.420MW so với năm 2020, chiếm tỷ trọng 27% trong hệ thống. Quy mô hệ thống điện Việt Nam đã vươn lên đứng đầu khu vực ASEAN về công suất nguồn.

Trong năm qua, điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống là 256,7 tỷ kWh, tăng 3,9% so với năm 2020. Điện thương phẩm đạt 225,3 tỷ kWh, tăng 3,85% so với năm 2020.

Tập trung đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án nguồn và lưới điện quan trọng trong năm 2022 - Ảnh 1

Đáng lưu ý, năm 2021 là một năm vận hành đầy biến động của hệ thống điện quốc gia khi nhiều khu vực có nhu cầu điện giảm thấp do chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19; thủy văn diễn biến bất thường; tỷ trọng các nguồn điện năng lượng tái tạo tăng cao gây khó khăn trong điều hành hệ thống và dẫn đến tình trạng “thừa nguồn”. Tuy nhiên, hoạt động chỉ đạo điều hành sản xuất, vận hành hệ thống điện vẫn bám sát nhu cầu phụ tải, khai thác tối ưu các nguồn điện.

Năm 2021, EVN bảo toàn và phát triển được vốn nhà nước, tổng giá trị tài sản hợp nhất toàn EVN là 731.000 tỷ đồng, bằng 100,2% so với năm 2020, trong đó vốn chủ sở hữu là 255.000 tỷ đồng, tăng 6,2% so với năm 2020. Giá trị nộp ngân sách toàn Tập đoàn đạt 22.440 tỷ đồng.

Trong năm qua, EVN và các đơn vị thành viên đã đưa vào vận hành Nhà máy Thủy điện Thượng Kon Tum (220MW) và Nhà máy thủy điện Đa Nhim mở rộng (80MW), hoàn thành cụm công trình cửa xả dự án Thủy điện tích năng Bác Ái. Đồng thời đã khởi công 3 dự án nhà máy thủy điện gồm: Hòa Bình mở rộng (480MW), Ialy mở rộng (360MW) và Quảng Trạch I (1.200MW). Về lưới điện, khởi công 195 công trình và hoàn thành 176 công trình lưới điện các cấp điện áp từ 110-500kV.

Bên cạnh  đó, EVN và các tổng công ty điện lực cũng chủ động thu xếp vốn, đạt được hơn 1.100 tỷ đồng để cấp điện cho 15.000 hộ dân chưa có điện tại địa bàn khó khăn thuộc các tỉnh Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Lạng Sơn, Điện Biên, Nghệ An, Cà Mau,… Tính đến cuối năm 2021, số xã có điện trên cả nước đạt 100% và số hộ dân được sử dụng điện đạt 99,65%, trong đó số hộ dân nông thôn có điện đạt 99,45%.

Năm 2021, EVN đã hoàn thành các chỉ tiêu về tổn thất điện năng giảm còn 6,27%, thấp hơn 0,13% so với kế hoạch và giảm 0,15% so với năm 2020.

Thực hiện chủ đề năm về chuyển đổi số, EVN đã cơ bản hoàn thành trên 50% khối lượng đã đề ra trong Đề án tổng thể Chuyển đổi số trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam đến năm 2022, tính đến năm 2025 cho cả giai đoạn 2021-2025.

ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ CÁC NGUỒN ĐIỆN TRỌNG ĐIỂM

Về mục tiêu trong năm 2022, EVN cho biết sẽ đẩy nhanh các thủ tục đầu tư, thu xếp vốn đối với 05 dự án nguồn điện trọng điểm; gồm: thủy điện Trị An Mở rộng, Nhiệt điện Dung Quất I&III, Nhiệt điện Ô Môn III, Nhiệt điện Quảng Trạch II; tập trung thi công các dự án Thủy điện Hoà Bình mở rộng, Ialy mở rộng, Nhiệt điện Quảng Trạch I.

Đồng thời, khởi công và hoàn thành phát điện thương mại các dự án điện mặt trời Phước Thái 2 (100 MWp), Phước Thái 3 (50 MWp); phấn đấu khởi công dự án Nhiệt điện Ô Môn IV (1.050 MW).

Với các dự án lưới điện, hoàn thành 264 công trình lưới điện từ 110-500 kV, khởi công 233 công trình lưới điện từ 110-500 kV; triển khai thủ tục đầu tư dự án cấp điện huyện Côn Đảo và các dự án cấp điện nông thôn, miền núi, hải đảo phù hợp với phân bổ vốn ngân sách nhà nước trong kế hoạch 2022.

Trong năm 2022, Tập đoàn sẽ tiếp tục sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp, hoàn thiện bộ máy tổ chức; trong đó, tập trung hoàn thành quyết toán cổ phần hoá Tổng công ty Phát điện 2, 3 (GENCO 2, 3) và thực hiện cổ phần hoá Tổng công ty Phát điện 1 (GENCO1) theo chỉ đạo của Cơ quan có thẩm quyền.

Ngoài ra, tập đoàn tiếp tục rà soát, sửa đổi Điều lệ, Quy chế tổ chức và hoạt động các Tổng công ty do EVN nắm giữ 100% vốn điều lệ và các đơn vị trực thuộc EVN.

Đồng thời, bám sát, giải trình Ủy ban quản lý vốn nhà nước, các bộ, ngành để trình Chính phủ phê duyệt Điều lệ EVN sửa đổi; trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp của EVN giai đoạn 2021-2025, Đề án chuyển Trung tâm Điều độ Hệ thống điện (A0) thành Công ty TNHH MTV.

Để hoàn thành mục tiêu cổ phần hóa, EVN đã kiến nghị Ủy ban quản lý vốn nhà nước xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp của EVN giai đoạn 2021-2025; đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, trình Chính phủ phê duyệt sửa đổi, bổ sung Điều lệ tổ chức và hoạt động của EVN…

TẬP TRUNG VÀO 6 NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM

Ghi nhận và đánh giá cao những kết quả đạt được của EVN trong năm 2021, đồng thời thống nhất với mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp mà EVN đã đề ra cho năm 2022 với chủ đề “Thích ứng an toàn, linh hoạt và hiệu quả”, ông Nguyễn Hoàng Anh – Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp (CMSC) đề nghị EVN tập trung vào 6 nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, EVN cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp kinh tế, kỹ thuật kết hợp phòng, chống dịch hiệu quả để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị là đảm bảo cung cấp điện an toàn, ổn định cho phát triển kinh tế – xã hội và đời sống nhân dân, đặc biệt trong giai đoạn dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp. Lưu ý việc phụ tải có thể tăng cao khi dịch bệnh được kiểm soát, chương trình phục hồi kinh tế được đẩy mạnh trong thời gian sắp tới.

Thứ hai, trên cơ sở Đề án Chiến lược phát triển Tập đoàn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, EVN sớm hoàn thiện, trình Ủy ban Kế hoạch sản xuất – kinh doanh 5 năm giai đoạn 2021 – 2025 và Kế hoạch sản xuất – kinh doanh năm 2022 để làm cơ sở triển khai nhiệm vụ năm 2022 và các năm tiếp theo.

Ngoài mục tiêu đáp ứng các nhiệm vụ chính trị, EVN phải lưu ý đến hiệu quả sản xuất – kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn. Trong điều kiện chi phí nhiên liệu đầu vào (than, dầu, khí) tăng cao, cần làm tốt công tác điều hành hệ thống điện, thị trường điện để tối ưu chi phí mua điện, cũng như thực hiện triệt để các giải pháp tiết kiệm chi phí.

Bên cạnh đó, EVN cũng cần nghiên cứu xu hướng phát triển trên thế giới cũng như tại Việt Nam để từng bước triển khai các loại hình năng lượng mới, đón đầu các dịch vụ mới như hệ thống sạc pin cho xe điện…

Thứ ba, tiếp tục tổng hợp, báo cáo các Bộ, ngành, địa phương những khó khăn, vướng mắc về thủ tục pháp lý, công tác giải phóng mặt bằng,… để được hỗ trợ, hướng dẫn, đồng thời triển khai các giải pháp phù hợp để đẩy nhanh thủ tục đầu tư, thu xếp vốn, đảm bảo tiến độ, chất lượng các công trình nguồn và lưới điện lớn, quan trọng. Trước mắt, phải tập trung tập trung đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án điện thuộc các Chuỗi dự án khí – điện Lô B và Cá Voi Xanh.

Thứ tư, tiếp tục thực hiện công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp, việc cổ phần hóa phải cố gắng thay đổi về chất, về quản trị doanh nghiệp, thu hút các nhà đầu tư chiến lược để tăng cường năng lực quản lý, thu hút nguồn vốn cho đầu tư và phát triển.

Thứ năm, đẩy mạnh công tác chuyển đổi số, phấn đấu đến hết năm 2022, EVN cơ bản chuyển đổi thành doanh nghiệp hoạt động theo mô hình doanh nghiệp số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong tất cả các lĩnh vực quản trị, đầu tư xây dựng, sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khách hàng.

Thứ sáu, EVN cũng cần tiếp tục chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, công nhân viên; thực hiện tốt các nhiệm vụ an sinh xã hội; nâng cao hơn nữa vai trò của Công đoàn và các tổ chức quần chúng, chú trọng hơn nữa đến công tác đào tạo, đào tạo lại để tăng năng suất lao động, nhằm thực hiện tốt mục tiêu năng suất lao động tăng từ 8 – 10%/năm.

Chỉ tiêu chủ yếu của EVN năm 2022

Sản lượng điện thương phẩm năm 2022 là 242,35 tỷ kWh, tăng trưởng 7,6% so với năm 2021.

Kế hoạch vốn đầu tư toàn Tập đoàn là 96.500 tỷ đồng.

Tỷ lệ điện dùng cho truyền tải và phân phối: không vượt quá 6,25%.

Độ tin cậy cung cấp điện: Thời gian mất điện bình quân của một khách hàng trong năm (chỉ số SAIDI) không quá 333 phút.

Năng suất lao động tăng 8-10%.

Bảo toàn, phát triển vốn nhà nước; Hoạt động sản xuất kinh doanh có lợi nhuận.

Nguồn: vneconomy.vn

Check Also

hai-cua-khau-chi-ma-va-tan-thanh-thuc-hien-thong-quan-tro-lai

Hai cửa khẩu Chi Ma và Tân Thanh thực hiện thông quan trở lại

Cửa khẩu Quốc gia Chi Ma và Cửa khẩu Tân Thanh tỉnh Lạng Sơn đã …

Leave a Reply

%d bloggers like this: