Tin Nóng

Nghị quyết “tam nông” và vị thế người nông dân

Nghị quyết “Tam nông” về bản chất và trên thực tế là Nghị quyết về người Nông dân

Sau gần 14 năm thực hiện Nghị quyết 26 ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành TW đảng khóa X về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn, chúng ta đã đạt được những thành tựu vô cùng ấn tượng và rất đáng tự hào, làm thay đổi hẳn diện mạo nông thôn; thật là một kỳ tích khi cho đến nay đã có tới 70% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM), đời sống nông dân được nâng cao, nông nghiệp ngày càng hiện đại và đang từng bước vươn mình từ nền nông nghiệp truyền thống còn đậm nét tiểu nông sang nền nông nghiệp số.

Tuy đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, nhưng vẫn còn đó không ít khó khăn, những điều bất cập và trăn trở mà ‘tam nông’ đang phải đối mặt; cũng đã nảy sinh thêm nhiều vướng mắc và những hạn chế, yếu kém cần phải được tiếp tục tháo gỡ và nỗ lực vượt qua.

Nghị quyết “tam nông” và vị thế người nông dân - Ảnh 1.

GS.TS NGND Trần Đức Viên, Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư liên ngành Nông nghiệp – Lâm nghiệp.

Người ta cho rằng, chính sách “Tam nông” thực ra là chính sách “Nhất nông”, chính sách và thái độ của chúng ta đối với người Nông dân; nói về Tam nông nhưng về bản chất và trên thực tế chỉ có một vấn đề, đó là những ‘câu chuyện’ của người nông dân, về người nông dân, những người có sinh kế chủ yếu bằng nghề nông và môi trường sống là nông thôn.

Sở dĩ phải nhìn vào nông nghiệp là để thấy nguồn sống và đóng góp của nông dân vào công cuộc phát triển và bảo vệ đất nước, nhìn vào nông thôn để thấy sự bảo đảm ‘không gian sinh tồn’, không gian văn hóa, cái làm nên cốt cách của con người nơi đây, cái làm nên hồn cốt của dân tộc này. Nên, trọng tâm của chính sách tam nông, chính là chính sách và thái độ của chúng ta đối với người Nông Dân!

Trong một đất nước, khi nói đến Nhân dân là nói về Nông dân, khi nền kinh tế đất nước vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất Nông nghiệp, không gian sinh tồn chủ yếu của cư dân là Nông thôn, thì sự ổn định của khu vực này là sự ổn định của đất nước, sự phát triển của khu vực này là sự phát triển của dân tộc. Giải quyết được vấn đề nông dân là giải quyết được các vấn đề khác của đất nước; Giải quyết được những ‘câu chuyện’ của người nông dân thì sẽ tạo nên sức mạnh cộng hưởng, rời non lấp biển.

Tam nông là vấn đề hệ trọng, khó và phức tạp, nên bất kỳ chính sách hay chủ trương, đường lối nào có liên quan đến nông dân, nông thôn, nông nghiệp đều phải là chính sách vì người nông dân, từ người nông dân.

Để có một chính sách đúng, hợp lòng dân về những vấn đề lớn, khó và phức tạp, một trong những cách tốt nhất là ‘hỏi’ nông dân. Thái độ lắng nghe và trân trọng những ý kiến khác nhau chính là thái độ nền tảng của điều mà chúng ta gọi là dân chủ – cách sống dân chủ, chế độ dân chủ… Dân chủ là một cách sống, một thái độ văn hóa, trước khi là một thể chế chính trị.

Người đi đối thoại cần có năng lực và phẩm chất biết tự thoát mình, không chỉ bám vào tư duy của mình, định kiến của mình. Mỗi định kiến là một rào cản tư duy của người mang nó, đồng thời là rào cản cho tư duy của người khác, rất tai hại cho mỗi người và cho tiến bộ xã hội. Định kiến và thái độ cho rằng mình là người duy nhất đúng khiến tư duy của chúng ta trở nên chật hẹp, tù túng và bảo thủ, vì mỗi định kiến là một cánh cửa bị khóa của ‘căn nhà’ tư duy.

Muốn có chính sách đúng về nông dân thì phải hiểu nông dân, muốn hiểu thì phải tìm hiểu và đối thoại. Chân lý sinh ra từ đối thoại, không đối thoại thì hoặc không tìm thấy chân lý, hoặc chân lý trở nên vô ích. Đây là những vấn đề quan trong, mang tính cốt tử để có một chính sách đúng về người nông dân, được nông dân và các tầng lớp khác trong xã hội đón nhận.

Đi theo lối mòn và giáo điều không thể tạo nên sự đột phá, đi theo lối mòn và giáo điều không thể tạo ra sự sáng tạo. Không có đột phá và sáng tạo thì không thể tạo dựng nên các giá trị mới, các động lực và nguồn lực mới để hình thành giai tầng nông dân mới mang dấu ấn thời đại.

Nghị quyết Tam nông mới – Niềm tin và Mong đợi

Nghị quyết 26 đã hướng trọng tâm vào sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao sự đóng góp của ngành nông nghiệp vào tăng trưởng kinh tế chung của đất nước, cũng như đóng góp của sản xuất nông nghiệp vào GDP quốc gia, lấy đất đai và tự do hóa thị trường làm động lực, giải phóng sức sản xuất của đất. Nhưng hình như là, Nghị quyết còn chưa quan tâm đầy đủ, toàn diện và đứng mức về người nông dân (địa vị chính trị, thân phận xã hội, vai trò kinh tế).

Nghị quyết “tam nông” và vị thế người nông dân - Ảnh 2.

Nghị quyết số 26-NQ/TW đã tạo cho nông nghiệp chuyển biến mạnh mẽ

Do quan tâm nhiều hơn đến sản xuất nông nghiệp, đến phát triển kinh tế nông thôn, đến đóng góp của ngành nông nghiệp vào GDP, nên vai trò và vị trí của người nông dân chưa thật sự rõ nét.

Chính sách đầu tư công đã thể hiện điều đó, các câu chuyện buồn xung quanh việc cưỡng chế, thu hồi đất đai khi nhà đầu tư, với sự giúp sức của chính quyền địa phương, trong giải phóng mặt bằng để mở các khu công nghiệp, các khu đô thị, các sân golf; việc giãn dân xây dựng các công trình thủy điện nhưng người dân mất rừng mất ruộng sống ngay dưới chân cột điện cao thế của nhà máy thủy điện vẫn tù mù dở sáng tối với chiếc đèn dầu… đã nói lên điều đó.

Hình như là, Nông dân chưa thực sự được coi trọng, chưa là chủ thể, chưa là chủ, chưa được làm chủ. Đó là điểm căn cốt nhất cần phải thay đổi trong Nghị quyết Tam nông mới. Và khi đó, Nghị quyết sẽ sớm được hiện thực hóa thành sức mạnh vật chất trên đồng ruộng, trong làng mạc và trong từng ngôi nhà của người nông dân.

Mục tiêu chung của chính sách “tam nông”, suy cho cùng, là:

(i) Không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của người nông dân, hình thành tầng lớp nông dân mới chuyên nghiệp, làm nông là một nghề có tri thức, để họ có thể tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào quá trình phát triển của đất nước và bảo vệ Tổ Quốc, tự hào và hãnh diện với nghề nghiệp của họ;

(ii) Phát triển nền nông nghiệp hiện đại, đó là nền nông nghiệp có trách nhiệm, có khả năng cạnh tranh cao, tạo ra giá trị gia tăng cao, hiệu quả kinh tế-xã hội cao, và bền vững; và

(iii) Xây dựng nông thôn hiện đại, đó là nông thôn mang hơi thở của thời đại, văn minh, tiện nghi và hiện đại, tạo ra cơ hội cho một đứa trẻ sinh ra ở nông thôn cũng ko khác gì cơ hội của một đứa trẻ sinh ra ở thành phố; nhưng vẫn là nông thôn Việt Nam, mang đậm văn hóa của cộng đồng mình, của dân tộc mình, của đất nước mình.

Nếu vậy, cần quan tâm đến các nội dung sau trong phát triển:

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế khu vực nông thôn, trong tăng trưởng phải chú ý đến tiến bộ xã hội, chú trọng đến vấn đề công bằng trong phát triển;

Thứ hai, tăng phúc lợi từ điều chỉnh lợi ích xã hội, nhà nước chịu trách nhiệm về việc điều chỉnh và phân phối phúc lợi này;

Thứ ba, xây dựng nông thôn mới văn minh hiện đại; Muốn vậy, phải phá được 3 nút thắt trong kinh tế nông thôn: hạ tầng, chất lượng nhân lực, và quản trị cộng đồng. Lưu ý là, nông thôn văn minh, hiện đại khác một thành phố văn minh, hiện đại như thế nào để nông thôn vẫn là nông thôn, nơi chứa đựng văn hóa và văn hiến Việt, đồng thời thực sự trở thành nơi đáng sống; Đó là một câu hỏi lớn cần được trả lời tường minh, khoa học trong Nghị quyết tam nông mới.

Vấn đề “Tam nông” cần được nhìn nhận trong bối cảnh phát triển mới với công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, toàn cầu hóa, chuyển đổi số và biến đổi khí hậu cùng với những cú sốc tự nhiên và các nhân tai bất thường, khó đoán định (dịch bệnh, chiến tranh).

Có ý kiến cho rằng, nói đến phát triển nông nghiệp là bàn đến các vấn đề như tăng trưởng, cạnh tranh, bảo tồn các nguồn tài nguyên, … và người ta thấy thực trạng là: nguồn lực (đất, nước, rừng, sinh thái…) đang bị suy giảm và cạn kiệt; Giải pháp nào cho các vấn đề này trong tuong lai trong khi chi phí đầu vào ngày càng tăng (giá quốc tế tăng, tỷ trọng mua ngoài ngày càng lớn…), lợi thế cạnh tranh quốc tế có nguy cơ bị giảm sút, áp lực chất lượng trên thị trường ngày càng ngặt nghèo, yêu cầu ổn định cung ứng ngày càng cao…

Nói đến phát triển nông thôn là nói đến các nội dung về không gian kinh tế, hạ tầng, dịch vụ công, nghèo đói, bản sắc văn hóa, suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường…Thực trạng hiện nay là: thiếu quy hoạch phát triển, hạ tầng yếu kém, dịch vụ công vừa thiếu vừa kém hiệu quả, chi phí cao, quản lý tài nguyên bất cập, môi trường bị ô nhiễm…

Nói đến nông dân là nói đến số lượng và chất lượng cuộc sống của người nông dân như thu nhập, tổ chức dân cư, liên kết cộng đồng, giám sát xã hội, dân chủ hóa, dân trí, tệ nạn… Tình trạng hiện nay là: thu nhập thấp, bấp bênh, ly nông, ly hương bất đắc dĩ, thiếu việc làm, đối mặt với nhiều loại tệ nạn, dân chủ bị vi phạm, chất lượng sống thấp, vị thế thấp, tiếp cận dịch vụ công yếu, thiếu bình đẳng…

Một số quan điểm cần được thể hiện rõ hơn trong Nghị quyết “Tam nông” mới

Các quan điểm lớn về “tam nông” cần được thể hiện rõ hơn trong Nghị quyết mới là:

Thứ nhất, Dân là gốc: Dân là nguồn gốc của mọi động lực phát triển, chính sách phát triển; Ở nông thôn, nông dân là trung tâm của quá trình phát triển (chủ thể, làm chủ, là chủ, dân chủ, công bằng…) trong quá trình phát triển;

Thứ hai, Củng cố và tăng cường liên minh công – nông: Liên minh công-nông là cương lĩnh chính trị của Đảng và Nhà nước; trong chiến tranh là liên minh “chính trị”, trong thời bình là liên minh “kinh tế”.

Thể chế trong liên minh thể hiện ở chỗ nhà nước vì lợi ích xã hội, chú trọng đến nông dân, nông thôn như một khu vực kinh tế quan trọng (tăng trưởng, an ninh lương thực, xuất khẩu, đầu tư, quy hoạch…) và các vấn đề khác về người nông dân và cộng đồng nông thôn như dân chủ hóa, chuyên nghiệp hóa, bình đẳng, vị thế xã hội….

Thứ ba, Chính sách đất đai là cội nguồn của chính sách kinh tế trong nông thôn, vì đất đai gắn với môi trường sống, sinh kế và cơ hội phát triển của nông dân, đất đai gắn với văn hóa, đất đai gắn với chế độ canh tác và tổ chức sản xuất và các mối quan hệ trong xã hội nông thôn (địa chủ – tá điền, đại điền – tiểu điền, trực canh – gián canh…), đất đai gắn với chính trị, thể chế như đói nghèo, mất đất, thất nghiệp, bất ổn, xung đột, mâu thuẫn,…

Hiện nay, chính sách đất đai đang là trung tâm của các vấn đề trong xã hội nông thôn như sinh kế, các mâu thuẫn trong việc nông dân mất đất, nông dân chán ruộng (bỏ hoang đất, ly nông), nông dân chán chốn thôn quê (vì đất không nuôi nổi người, ly hương); Khi chuyển đổi đất, sinh kế của nông dân bị mất đi trước khi họ kịp chuẩn bị chuyển đổi nghề nghiệp mới. Đa số nông dân mất nghề nông khi mất đất, họ trở thành đội quân thất nghiệp kéo đến các thành phố làm gia tăng áp lực về các vấn đề xã hội ở đô thị.

Nghị quyết “tam nông” và vị thế người nông dân - Ảnh 4.

Nền nông nghiệp từng bước hiện đại hóa đáp ứng nhu cầu thị trường và xuất khẩu.

Nông dân, họ là ai?

Khi nói về người nông dân, người ta thường hay nói đến (i) Bản thân họ, (ii) Gia đình họ, (iii) Sinh kế chính của họ, (iv) Không gian sinh tồn của họ, (v) Các tổ chức xã hội và xã hội – nghề nghiệp của họ, (vi) Giai cấp nông dân, và (vii) Liên minh công-nông, và những “câu chuyện” có vai trò quyết định đên vị thế chính trị, địa vị kinh tế, và thân phận xã hội của người nông dân.

Thực tế, nông dân đang là người chịu nhiều hi sinh và thiệt thòi nhất trong xã hội. Ai đang là tầng lớp nghèo khó nhất, thấp cổ bé họng nhất, chịu nhiều hi sinh và thiệt thòi nhất trong xã hội? Nông dân!

Do vậy, chúng ta cần một Nghi quyết mới, sâu hơn, rộng hơn, toàn diện hơn về người Nông dân, để có thể tạo ra một thời đại mới cho Nông nghiệp Việt Nam, cho Nông thôn Việt Nam. Chúng ta cần biết về thân phận của người nông dân vào năm 2008, khi Nghị quyết 26 được ban hành, chân dung của “Người Nông dân mới” trong giai đoạn hiện nay, và và vị thế của họ thời 4.0, thời chuyển đổi số vào năm 2030, vào năm 2045…

Trong các loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp và khả năng tiếp cận các nguồn lực cho nông nghiệp, nông thôn, ai là Nông dân, nông dân gì (farmer hay peasants), ai là người làm thuê (tá điền – employee), ai là người lĩnh canh (tenant), ai là ông chủ, ai là nhà đầu tư (invester), hay tất cả họ, những người làm nông nghiệp, dù dưới bất kỳ hình thức nào, miễn là tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp, sống chủ yếu bằng nghề nông và có sản phẩm đầu ra là nông sản, cũng đều được coi là Nông dân?

Họ làm thành một giai cấp hay chỉ là một tầng lớp trong các ‘thứ hạng’ người trong xã hội? Lại còn ‘ông chủ’ nữa, ai là địa chủ (landlord), ai là chủ đất, là điền chủ (landowner), đó là hai khái niệm khác nhau hay là chỉ khác nhau về cách gọi tùy theo thái độ chính trị của nhà cầm quyền, còn thực ra chỉ là một khái niệm dùng để chỉ một giai tầng (các ‘ông chủ mới’) trong xã hội nông thôn?

Đặc điểm của mấy ông ‘địa chủ’ ngày nay có gì giống và khác với các ông bà ‘địa chủ’ thời thuộc địa nửa phong kiến? Thái độ của chúng ta và cung cách ứng xử của chúng ta với các ông bà địa chủ mới này như thế nào?

Khuyến khích họ tiếp tục phát triển sự nghiệp làm ông chủ, hay họ là thành phần giai cấp cần phải cảnh giác? Bóc lột của họ có ‘tử tế’ không, có mang tính giai cấp ‘tình đồng chí nghĩa đồng bào’ không?

Cho đến nay, hình như chưa có sự thừa nhận chính thức nào với tầng lớp ‘địa chủ mới’ (nếu có thể gọi như thế) ở nông thôn, và vì thế tầng lớp này vẫn chưa thể được hình thành một cách chính danh cùng với vị thế xã hội và địa vị chính trị của họ. Thiết nghĩ, một xã hội nếu không có tầng lớp ‘địa chủ dân tộc’ ở nông thôn và tầng lớp ‘tư sản dân tộc’ ở đô thị, sẽ rất khó mà có thể giàu mạnh…

Chúng ta rất cần tầng lớp doanh nhân mới, ở cả đô thị và nông thôn, đó phải là những người biết phụng sự xã hội, phụng sự dân tộc, chứ không phải là những kẻ nhờ biết đi cửa trước biết luồn cửa sau để liên kết với các quan chức biến chất tìm cách tham nhũng chính sách, lách qua các kẽ hở của pháp luật, lợi dụng sự cả tin của xã hội, để chiếm dụng và làm hao tổn tài nguyên của đất nước, giàu lên trên mồ hôi, nước mắt và tài sản của những người cần lao!

Tổ chức nào là tổ chức thực sự của Nông dân, là điểm tựa cho Nông dân, là niềm tin và tự hào của Nông dân? Hiện nay có 2 tổ chức phổ biến nhất là Hội nông dân và HTX nông nghiệp, hai tổ chức này có thực sự là của nông dân, vì nông dân, từ nông dân? Tại sao đa số nông dân vẫn chưa mặn mà với HTX, có phải vì họ bị ám ảnh bởi các dư âm về HTX của những năm 60, 70 của thế kỷ trước ở miền Bắc hay còn những lý do nào khác nữa?

Ở tầm đất nước là giai cấp nông dân và các giai tầng xã hội nông thôn khác. Có người ngại dùng đến từ “giai cấp”, vì nó động vào niềm đau của không ít người, làm người ta nhớ lại thời kỳ đấu tranh giai cấp chưa xa, đã để lại những hậu quả cay đắng, những di chứng đầy khổ đau và nước mắt.

Cái gọi là “giai cấp” có còn tồn tại trên thực tế không, hay chỉ là định kiến chính trị của một thời đã qua; nếu có, thì tính chất, đặc điểm của nó thời 4.0 có gì giống và khác với thời vào những năm 50 của Thế kỷ trước?

Liên minh sỹ-nông-công-binh-thương, với trụ cột là liên minh công-nông hiện nay như thế nào. Nếu đã lý giải được về giai cấp nông dân thì cũng lý giải được liên minh này trên thực tế tồn tại ra sao; Liên minh này ‘thời xưa’ thế nào, ‘thời nay’ ra sao. Các “giai cấp” này còn liên minh chính trị với nhau nữa không, còn liên minh kinh tế với nhau nữa không? Ở mức độ nào? Liên minh này vận hành thế nào trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN?

Cuộc “tháo chạy vĩ đại” khỏi các thanh phố lớn, các khu công nghiệp để về nơi chôn nhau cắt rốn của hàng triệu nông dân mặc áo công nhân, mặc áo người làm thuê, trong đại dịch Covid-19 vừa qua, đã nói lên điều gì về các Liên minh này?

Những “câu chuyện” của người Nông dân

Người nông dân có rất nhiều “chuyện” để bàn; ở đây chỉ xin đề cấp đến 4 ‘câu chuyện’, có lẽ là cấp thiết nhất có liên quan đến cuộc sống, sinh kế và tương lai của họ, đó là nghề nông, làng – không gian sinh tồn, đất đai và đầu tư công.

Nông nghiệp

Người Việt vốn coi trọng nghề nông (nông nghiệp), coi hạt thóc là hạt ngọc (“ngọc thực”); Minh triết của người Việt coi nông nghiệp là gốc của mọi thứ trong xã hội (“canh nông vi bản”).

Hình hài của đất nước, vóc dáng của dân tộc Việt Nam hôm nay là do nông dân tạc vào lịch sử; truyền thống và văn hóa của người Việt cũng là do nông dân và các tầng lớp trí thức tinh hoa của họ tạo dựng lên. Thế nên, “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp, nền kinh tế lấy canh nông làm gốc… nông dân giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” (Thư kêu gọi điền chủ, nông gia Việt Nam ngày 11- 4 -1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Nghề gì là nghề chính của nước ta, có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến sự ổn định XH và phát triển của đất nước? Nông nghiệp!

Ngành kinh tế nào là ngành kinh tế quan trọng nhất, mang lại nguồn thu ngoại tế lớn nhất, có ảnh hg trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến sự ổn định XH và phát triển của đất nước? Kinh tế nông nghiệp!

Có lẽ là, Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất của đất nước, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, “nền kinh tế lấy canh nông làm gốc…”. Thực tế cho thấy, chúng ta cũng đã từng rất quyết tâm xây dựng và phát triển nền kinh tế ‘thoát nông’ lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, làm ‘then chốt’, theo mô hình phát triển đã qua của các cường quốc công nghiệp.

Thực trạng các ngành công nghiệp Việt Nam hiện nay như thế nào, đạt đến trình độ nào của thế giới, thì hẳn là ai cũng biết. Thực t cho thấy, chúng ta không thể phát triển thành nước công nghiệp hiện đại theo con đường mà các nước công nghiệp phát triển đã đi qua và thành công.

Xét về tiềm lực cơ sở vật chất, nhân lực và quản trị xã hội cũng như trình độ KH&CN, chúng ta khó có thể trở thành nước công nghiệp theo cách mà các nước Phương Tây (bao gồm cả Nhật Bản) đã đi trong suốt 2 thế kỷ qua. Có lẽ chúng ta phải lấy điểm tựa cho công cuộc CNH, HĐH đất nước từ nông nghiệp. CNH, HĐH trước hết là cho nông nghiệp và phát triển nông thôn. Phải chăng, đó mới là gốc, đó mới là sức mạnh nội sinh của chúng ta?

Nghị quyết “tam nông” và vị thế người nông dân - Ảnh 5.

Chăm sóc cây dưa lê Hàn Quốc tại Hợp tác xã nông nghiệp hữu cơ Quang Minh, thôn Hương Thịnh, xã Quang Minh, huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang). (Ảnh: Thành Đạt/TTXVN)

Cái khó là, chúng ta vươn lên sản xuất lớn, xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, hướng tới thị trường toàn cầu trên đôi chân vừa nhỏ bé vừa yếu ớt của kinh tế hộ gia đình, của nền kinh tế tiểu nông.

Nông dân chỉ bám ruộng khi nông sản được giá, nông sản chỉ có giá khi được người mua tin dùng, cái vốn xã hội lớn lao dành cho nông sản Việt Nam chỉ có thể tạo ra với một thái độ rõ rệt và hành động quyết liệt thể hiện qua chính sách của nhà nước về CNH, HĐH và đô thị hóa nông nghiệp, nông thôn, với vai trò quyết định sự thành bại của công cuộc này thuộc về người nông dân.

Làng – không gian sinh tồn của người Nông dân

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta để mất làng, đánh mất làng?

Không gian sống của người Nông dân, cụ thể và gắn bó nhất, là làng; Vì vậy, có lẽ là, làng phải là đơn vị trung tâm trong phát triển nông thôn nói chung, trong xây dựng Nông thôn mới nói riêng, chứ không phải xã, huyện hay tỉnh; vì đây chỉ là các đơn vị hành chính theo mô hình quản trị tập quyền trong quản lý lãnh thổ và dân cư.

Làng là điểm tụ cư, là nơi sinh sống và làm ăn lâu đời của nông dân ở vùng đồng bằng và trung du, với các vùng địa lý-sinh thái khác là buôn, bản, phum, sóc… có phạm vi địa lý cụ thể và mang những đặc trưng riêng biệt của cư dân, của “người làng”. Thường thì làng nào cũng có văn hóa phi vật thể riêng của làng ấy, từ tập tục, “nếp nhà”, tính nết, phong cách con người, sự cố kết của các dòng họ, lời ru của mẹ, chuyện cổ tích của bà, tiếng gà tao tác trưa hè đến lễ hội và thậm chí là cả giọng nói; đây cũng là nơi tạo dựng nên văn hóa vật chất, những thứ đã tạc vào tâm thế mỗi đứa con của làng, như cánh đồng với cánh cò lặn lội bờ sông, bến đò với lững lờ con nước tháng Ba, thao thiết dòng sông tháng Bảy, mái đình với cánh hạc “muốn bay không cất nổi mình mà bay”, cây đa đợi chờ và chào đón người đi xa từ khi họ còn cách làng hàng mấy cây số; rồi thì chùa làng, ao làng, giếng làng, cổng làng, nhà thờ họ… nơi bó bện của biết bao cuộc tình, nơi vui buồn của biết bao kiếp người…

Làng, theo những đứa con của làng, là nơi nối dài truyền thống của một vùng đất, giữ làng là giữ cái gốc để con người còn có nơi để mà hướng về cội nguồn. Chính những cái tưởng như nhỏ bé và vụn vặt này làm nên sức mạnh của làng, của dân tộc; nên, yêu làng thì yêu nước, đã yêu nước thì tất nhiên là yêu làng, yêu dân, đó là chân lý giản đơn ngàn đời nay của dân tộc này; vì vậy, giữ làng là giữ nước và ngược lại: muốn giữ nước thì phải giữ làng, giữ dân, được dân tin yêu…

Như vậy, làng mới làm nên sức mạnh văn hóa và văn hiến Việt Nam. Chúng ta đã nhiều lần mất nước, nhưng chưa bao giờ mất làng. Sức mạnh và sự trường tồn của làng thật to lớn và bền bỉ, ‘phép vua thua lệ làng’. Có làng thì mới có nước, trong ngôn ngữ của người Việt, không phải ngẫu nhiên mà có các từ ghép “làng nước”, “nước nhà”, “đất nước” để chỉ Tổ Quốc, để nói lên sức mạnh cộng đồng của người Việt, sự gắn bó với quê cha đất tổ của nguoi Việt, cái làm nên sức mạnh cội nguồn của dân tộc Việt.

Nghị quyết “tam nông” và vị thế người nông dân - Ảnh 6.

Làng quê đổi mới (Ảnh: Phạm Quốc Dũng)

Những cái “văn hóa phi vật thể’ và ‘văn hóa vật thể’ ấy cùng với cư dân (người làng) làm nên LÀNG. Diện mạo và đặc trưng của nông thôn Việt Nam là làng. Làm sao khi chúng ta phát triển nông thôn, xây dựng Nông thôn mới, cần gạn đục khơi trong để làng vẫn chứa đựng các không gian văn hóa đặc trưng xưa của làng nhưng với hơi thở mới, mang tính thời đại. Nếu không, làng Việt sẽ dần biến mất, không ai và không gì có thể cứu vẫn nổi.

Nhìn vào bức tranh làng quê Việt Nam từ khi có Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM), ai cũng phải thừa nhận, về mặt vật chất điện đường trường trạm do ‘nhà nước và nhân dân cùng làm’, và những ngôi nhà mới xây, từ trụ sở các cơ quan đến nhà dân, nhìn chung đều to đẹp và khang trang, đã làm thay đổi hẳn khuôn mặt nông thôn, diện mạo làng quê.

Nhưng làng phải thế nào hay nên như thế nào về cả mặt hình thức thể hiện bên ngoài lẫn cái hồn cốt bên trong ở các vùng miền khác nhau?

Một trong những nét chấm phá dễ nhận ra nhất của công cuộc xây dựng NTM hiên nay là bê tông hóa nông thôn, đồng bằng hóa miền núi và phố hóa làng mạc. Làng nhìn bề ngoài thấy có vẻ là to đẹp hơn, nhưng làng thực là LÀNG thì dường như ngày càng bé lại, dúm dó và khiêm nhường sau những tòa nhà cao tầng ‘đời mới’; và cứ đà này, đến một lúc nào đó, không còn làng nữa, làng sẽ tan biên trong cơn lốc NTM và đô thị hóa!

Làng không chỉ tan biến dần về kiểu dáng kiến trúc, qui hoạch cảnh quan, mà cả hồn cốt của làng cũng đang phai nhạt và mai một dần. Hồn cốt làng ăn sâu trong đời sống chất phác, ngay thật, tâm hồn trong sáng, hướng thiện và đức chịu đựng vô tận của người nông dân. Làm nông nghiệp không có ‘tương lai’ nên trai gái làng không ly hương thì khó mà có thể khá giả được!

Làng rỗng, nên mọi thứ trong làng cũng cứ ngày một nhạt nhẽo dần, kể cả kết nối giữa người với người và đạo đức xã hội, tình làng nghĩa xóm. Nông thôn dần dà sẽ không còn văn hóa làng nữa, không còn ‘đạo đức’ làng nữa; Thiết nghĩ, cũng nên nhắc lại ở đây lời cảnh tỉnh từ năm 1925 của cụ Phan Châu Trinh “đạo đức mất trước, làng nước mất sau”.

Rõ ràng là rất cần một đại quy hoạch mới về nông thôn, để có cảnh sắc nông thôn, để có kiểu dáng nhà cửa nông thôn và những gì sâu hơn thế nữa!

Về đại thể, có thể chia nông thôn thành 3 khu vực chính:

Thứ nhất, các làng nông nghiệp cổ truyền, cần gạn đục khơi trong để giử lại các nét cổ xưa của mỗi ngôi làng Việt, phục vụ phát triển du lịch và bảo tồn văn hóa, đa dạng sinh học; các làng này có thể ở ngay gần các khu đô thị (như Đường Lâm của Hà Nội) hay ở các vùng sâu vùng xa. Nguồn sống ở đây là kinh tế nông nghiệp và kinh tế du lịch.

Thứ hai, vùng chuyên canh nông nghiệp lớn với các thị trấn thị tứ, đây là các đô thị lõi trong vùng nguyên liệu, cung cấp nông sản cho các nhà máy chế biến và chế biến sâu.

Thứ ba, vùng đô thị nông thôn, phải là các đô thị xanh ở các vùng đông dân, với các kiểu nhà vườn kết hợp truyền thống và hiện đại, lao động phi nông nghiệp là chính, kiểu như Ecopark.

Cả 3 vùng này đều mở rộng các không gian sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, văn hóa, đậm nét vùng miền của các dân tộc anh em, đẩy mạnh hoạt động du lịch. Dân làng nào trong 3 khu vực ấy cũng có một vài sản phẩm nào đó để mà tự hào, nơi thì có hát chèo, nơi thì có hát bội, nơi có đình đẹp, nơi có nhà thờ với tiếng chuông ngân vang cả mấy cây số khi chiều buông, nơi có sản phẩm OCOP 5 sao, nơi có đặc sản gạo, nơi có đặc sản dừa, nơi có thịt gà ngon nổi tiếng, v.v…

Nếu có thể, thì sắp xếp lại các làng theo từng cụm với các nét tương đồng về văn hóa, phong tục, cảnh quan, nông sản… có hệ thống giao thông thuận tiện kết nối các làng lại với nhau tạo thành từng cụm làng, đây cũng là các cụm kinh tế, vùng nguyên liệu, cụm văn hóa, với xương sống là nông nghiệp và du lịch, có thị tứ thị trấn là ‘đô thị’ của làng quê.

Cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề môi trường để không còn nữa làng “ung thư”, làng “ô nhiễm”. Môi trường nông thôn không chỉ là môi trường sống cho cư dân, mà đây còn là môi trường tạo ra niềm tin của chất lượng nông sản, môi trường cho sức mạnh cạnh tranh của nông phẩm, tạo ra giá trị gia tăng cao cho nông sản Việt, tạo ra năng suất lao động cao của nghề nông…

Nghị quyết “tam nông” và vị thế người nông dân - Ảnh 7.

Tỉnh Lâm Đồng thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Trong ảnh: Sản xuất hoa công nghệ cao tại Công ty Dalat Hasfarm, TP Đà Lạt

Cần đổi mới nhận thức về đất đai và đầu tư công

Đất đai

Đất đai vừa là nhu cầu căn bản, vừa là khát vọng lớn nhất của người nông dân. Đối với người nông dân, đất đai là cuộc sống và cũng là văn hóa, là quê hương, là cội nguồn, là mồ mả cha ông, là niềm tin và điểm tựa.

Bất kỳ ai, đã là người Việt Nam, thì hầu hết đều có một cánh đồng để nhớ một làng quê để yêu, ở đó có thế giới tuổi thơ, nơi nhen nhóm và hun đúc nên lòng yêu nước thương nòi trong mỗi con người. Hồn cốt cánh đồng hồn cốt làng quê, cả hữu hình và vô hình, chính là đất đai.

Vì thế, các vấn đề có liên quan đến đất đai không chỉ là mối quan tâm của người nông dân, của chủ doanh nghiệp, của nhà quản lý… mà liên quan đến tất cả mọi người; vì dù xa dù gần gì, dù mặc áo gì hay được gắn nhãn mác gì, hầu hết chúng ta, đều có gốc gác ‘nhà quê’. Nên, chính sách đối với đất đai còn là nỗi buồn hay niềm vui chung của tất cả mọi người, của toàn xã hội. Có lẽ vì thế mà, thể chế (chính sách và tổ chức thực hiện chính sách) về đất đai có liên quan sâu sắc đến sự hưng thịnh của mỗi quốc gia, đến sự tồn vong của một thời đại.

Thái độ của chúng ta đối với đất đai đã biến nông dân, từ vị trí lẽ ra là người làm chủ, đã trở thành những người gần như không có quyền định đoạt số phận miếng đất mà họ được giao để sử dụng, do không có quyền sở hữu hay quyền tài sản. Quyền sở hữu thuộc một ông chủ khác, vừa hết sức to lớn, nhưng lại khó định hình, ấy là toàn dân, ông chủ thực sự của đất đai theo hiến định, nhưng cũng có nghĩa là của tất cả mọi người, nhưng lại ko phải là của ai cụ thể cả.

Khi nói về đất đai ở nông thôn, vấn đề được nhiều người quan tâm và tranh biện là các khái niệm về ‘sở hữu toàn dân’, ‘quyền sở hữu’, ‘quyền sử dụng’, về những thua thiệt của người nông dân trong quá trình phát triển và hội nhập…

Có lẽ ít có đất nước nào như ở nước ta, thực tiễn quản lý nhà nước những năm qua cho thấy, có đến 80% khiếu nại, tố cáo của công dân, tập trung vào lĩnh vực quản lý nhà và đất, trong đó về đất đai chiếm đến 70%; 75% các vụ án đã được xét xử có liên quan đến đất đai.

Một xã hội tốt đẹp, an bình là một xã hội người ta không muốn phạm tội và muốn phạm tội cũng không thể, chứ không phải là một xã hội bắt được nhiều tội phạm; một xã hội văn minh, tiến bộ phải là một xã hội nhân đạo hóa con người, chứ không phải một xã hội làm tha hóa con người.

Những vướng mắc chính trong công tác quản lý đất đai ở nước ta hiện nay chủ yếu là do nhận thức trong chính sách quản lý nhà nước về đất đai chưa được đồng nhất; lý lẽ về thiết chế quyền sở hữu đất đai chưa đủ sức thuyết phục; chế độ giao quyền sử dụng đất chưa được hoàn chỉnh; giá trị kinh tế đất đai chưa được xác định đúng; phân loại đất đai còn bất cập; quản lý đất đai còn lỏng lẻo, lãng phí…

Có người cho rằng, suy cho cùng, ‘quyền sở hữu’ hay ‘quyền sử dụng’ không mấy quan trọng, đó chỉ là vấn đề từ ngữ và đã là từ ngữ thì phần nhiều mang tính biểu tượng; vấn đề là trên thực tế, đất đai được quản lý như thế nào, hiệu quả cao hay thấp, có gây ra các bức xúc trong xã hội hay không.

Nhưng thực tế là, hiệu quả sử dụng đất không cao và xã hội có nhiều bất ổn có nguyên do từ quản lý đất đai. Vuong mắc chính là người dân ko có quyền lựa chọn mục đích sử dụng đất. Như vậy là, trong thực tiễn, tính ‘chính danh’ rất quan trọng, bởi vì “danh chính” thì “ngôn thuận”, nên các khái niệm dù là nhỏ nhất vẫn cần phải rõ ràng, tường minh, được cuộc sống chấp nhận, được hiểu đúng và làm đúng. Vì thế, nên chăng, việc đầu tiên là cần đổi mới nhận thức về đất đai? Đổi mới tư duy về tính chính danh của các khái niệm?

Mấu chốt của tất cả những bất cập và hạn chế nêu trên có lẽ bắt nguồn từ sự kết hợp khiên cưỡng của hai khái niệm vốn dĩ khác biệt nhau để tạo nên định chế “quyền sử dụng đất”, đó là khái niệm “quyền sở hữu tài sản” theo tư duy pháp lý và khái niệm “sở hữu toàn dân” theo tư duy chính trị – ý thức hệ.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, khái niệm cơ bản này rất cần được nghiên cứu nghiêm cẩn trên nguyên tắc tôn trọng thực tế, vì thực tế là tiêu chuẩn của chân lý, tạo động lực phát triển kinh tế xã hội và giảm các tổn thương cho sự ổn định xã hội.

Mặt khác, nếu đất đai là của toàn dân thì chính quyền chỉ là một thành tố trong khái niệm ấy chứ không thể đồng nghĩa chính quyền là nhà nước, nhà nước là toàn dân (chính quyền = nhà nước = toàn dân).

Và để hiểu rõ khái niệm này, Luật phải qui định rõ ràng và thuyết phục nhà nước trung ương được làm những gì và không được làm những gì, nhà nước địa phương (chính quyền cấp tỉnh, huyện, xã) được làm những gì và không được làm những gì, cơ quan quản lý chuyên ngành nhà nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường) và cấp dưới của cơ quan này được làm những gì và không được làm những gì…

Đúng ra, nhà nước cần phải phân định rạch ròi giữa chức năng quản lý nhà nước với chức năng công vụ của các nhiệm vụ cụ thể, hai việc này phải tách bạch và độc lập (tương đối) với nhau, không thể vừa đá bóng vừa thổi còi. Sự thiếu rõ ràng của các khái niệm này là một trong các nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện, vi phạm và bất ổn xã hội có liên quan đến đất đai.

Nghị quyết “tam nông” và vị thế người nông dân - Ảnh 8.

Diện mạo làng quê đổi mới ở xã Hạ Mỗ (huyện Đan Phượng). Ảnh Nguyễn Khắc Hiển


Luật đất đai và các văn bản dưới Luật cũng chưa đưa ra được một bộ nguyên tắc thống nhất, công bằng và minh bạch về quyền tiếp cận đất đai; Ví dụ như khi nhà nước ‘địa phương’ bán đất thì tổ chức đấu giá, dân phải mua với giá thị trường cao nhất, nhưng khi nhà nước thu hồi thì lại áp đặt giá nhà nước ‘rẻ như cho’, dân không chịu thì tổ chức cưỡng chế, thậm chí còn bị cho là ‘phản động’!

Điều này tạo ra sự mập mờ và bất định trong quản lý đất đai. Đồng thời, nó cũng tạo kẽ hở để các quan chức ở các cấp khác nhau có thể tự quyết định quy định nào của luật pháp ‘có nghĩa là’ như thế nào và vì quyền lợi của ai. Các ứng xử tử tế thân ái giữ người với người, trong đó có ứng xử của nhà cầm quyền và cán bộ thừa hành với người dân mới là nền tảng của một xã hội an thịnh.

Đứng ở góc độ lý thuyết cũng như trên thực tiễn, hiện nay chúng ta đã thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần (đa sở hữu), trong đó chủ doanh nghiệp tư nhân được quyền sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân được cam kết bảo vệ quyền sở hữu tư liệu sản xuất của họ. Các doanh nghiệp nhà nước đang được khuyến khích cổ phần hóa, tức đa dạng hóa sở hữu, đâu cứ nhất thiết là nhà nước phải độc quyền làm chủ tư liệu sản xuất?

Nếu như vì một lý do nào đó, người nông dân chưa có quyền sở hữu tư liệu sản xuất đặc biệt là đất đai, thì cũng đã đến lúc thừa nhận quyền sử dụng đồng thời cũng là quyền tài sản đối với mảnh đất mà họ đang sử dụng.

Một trong những ‘câu chuyện’ về đất đai, còn có vấn đề tích tụ và tập trung ruộng đất ở nông thôn.

Hiện đại hóa nông nghiệp đòi hỏi phải đi kèm với việc tích tụ và tập trung ruộng đất đủ lớn một cách có hệ thống nhằm tăng quy mô ruộng đất trung bình của nông hộ, và xu hướng này đang diễn ra ở nước ta, cánh đồng mẫu lớn là một ví dụ. Không tích tụ ruộng đất, nông dân không thể giàu lên được.

Tập trung ruộng đất là một chủ trương đang được nhà nước khuyến khích. Nhiều người cho rằng, tập trung ruộng đất là cần thiết để áp dụng rộng rãi cơ giới hóa, ứng dụng KH&CN, nhất là công nghệ chế biến nông sản, đẩy mạnh và thương mại hóa và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt; vì thế, đây là cách cơ bản để nâng cao năng suất nông nghiệp, tăng thu nhập cho nông dân, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp một cách bền vững. Tập trung ruộng đất cũng được xem như là một giải pháp để tăng việc làm.

Vấn đề đặt ra là: Tại sao quá trình tích tụ ruộng đất lại diễn ra chập chạp? Hoặc là, tại sao nông dân lại không nhận ra được hiệu quả thấp và chi phí cao của việc ruộng đất phân tán, manh mún? Hay tại sao họ không tự nguyện dồn điền đổi thửa để tổ chức lại sản xuất? Điều gì ngăn cản những người nông dân sản xuất nhỏ cùng với những người hàng xóm của họ tập trung lại ruộng đất để giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả đầu tư? Hay là, với nông hộ nhỏ (tiểu nông), phân tán ruộng đất vẫn còn có nhiều lợi thế?

Mặt khác, câu hỏi không phải là liệu tập trung ruộng đất có đúng đắn hay không mà là làm thế nào để xử lý các hậu quả xã hội, kinh tế, chính trị của những chương trình áp chế tập trung ruộng đất để mở rộng quy mô sản xuất.

Những chương trình như vậy cần phải trả lời thỏa đáng các câu hỏi, đại loại như: Ai sẽ quyết định mảnh đất nào cần được dồn lại? Cần sử dụng tiêu chí nào? Ai sẽ được hưởng lợi từ quá trình này và như thế nào? Ai sẽ thua thiệt và thua thiệt như thế nào?

Thực tế cho thấy, không nhất thiết cần có sự can thiệp về mặt hành chính trong tập trung ruộng đất. Hiện tại, sản lượng và xuất khẩu nông nghiệp đang tiếp tục được tăng trưởng nhờ nông dân điều chỉnh phương thức sản xuất, chuyển sang những hoạt động có lợi hơn, nâng cao khả năng canh tác và kỹ năng quản lý đất đai, nắm bắt tốt thông tin và cơ hội về thị trường.

Điều này cho phép nông dân hợp lý hóa lượng đất hiện có thông qua tập trung ruộng đất tự nguyện với hàng xóm theo tín hiệu thị trường và sự trưởng thành trong kĩ năng quản trị ruộng đồng. Chúng ta nên ủng hộ xu hướng tích tụ ruộng đất tự nguyện này.

Hiện nay, cơn sốt đất đã tràn về nông thôn, giá đất tăng cao, nên cơ hội cho việc tích tụ và tập trung đất đai càng khó hơn nữa. Nhiều quốc gia khác đã tiến hành rất thành công công cuộc này (Đài Loan, Hàn Quốc, Hà Lan, …) là nhờ những chính sách rất khôn ngoan ngay từ đầu đối với đất đai và nông nghiệp khi giá cả đất đai còn rất rẻ, thậm chí là người ta còn cho không nhau đất đai.

Đấy là còn chưa nói đến tâm lý nông dân vẫn giữ đất dù họ đã ly hương, đề phòng rủi ro mất việc ở đô thị sẽ về làng vẫn còn miếng đất cắm dùi, họ coi đất đai như một cuốn sổ bảo hiểm, do các cấu trúc an sinh xã hội của chúng ta chưa giải quyết được vấn đề nông dân mất đất và công nhân (gốc nông dân) mất việc tại đô thị và các khu công nghiệp.

Đầu tư công

Chênh lệch quá lớn về đầu tư công giữa nông thôn – thành thị có tác dụng tiêu cực. Nó hạn chế năng suất nông nghiệp, giảm những cơ hội để nông dân và cư dân nông thôn tạo ra thu nhập và của cải ngay tại địa phương, làm nghiêm trọng thêm vấn đề đói nghèo, giảm tiềm năng phát triển đô thị, công nghiệp. Các đô thị đang đông đúc và tắc nghẽn do dòng người di cư từ nông thôn ra làm tăng chi phí cho phát triển đô thị. Điều này cũng đi ngược lại với mô hình đầu tư tại các quốc gia có tăng trưởng cao.

Một trong những giải pháp hữu hiệu nhất để tăng phúc lợi cho vùng nông thôn và giảm nghèo bền vững là phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn.

Tăng đầu tư để cải thiện cơ sở hạ tầng và các dịch vụ khác cho nông nghiệp đòi hỏi phải có ngân sách. Phần lớn cái giá phải trả cho việc phát triển các khu công nghiệp là do những người nông dân mất đất gánh chịu. Họ chỉ nhận được một khoản đền bù rất thấp.

Một phần “địa tô chuyển đổi” đã được chuyển cho các nhà đầu tư khi họ xây dựng cơ sở hạ tầng từ đất nông nghiệp chuyển đổi để cho thuê lại hay ‘mua đứt bán đoạn’. Cần thay đổi lại cơ chế này để tăng giá trị của các loại đất nông nghiệp, bắt các nhà đầu tư phải ‘trả nợ’ xứng đáng cho nông dân để phát triển cơ sở hạ tầng, và kích thích nông dân đầu tư để tăng năng suất nông nghiệp.

Do nguồn lực được ưu tiên đầu tư cho các khu vực khác, tăng trưởng nông nghiệp đang mất đi sự năng động. Từ 1990 đến 2000, sản lượng nông nghiệp tăng trung bình 5.9%/năm trong khi từ 2000-2008 tăng trưởng còn 4.2%/năm, và giai đoạn 2011-2020 chỉ còn 2,83%.

Phát triển đô thị và công nghiệp đang được thúc đẩy đi trước sự phát triển của nông thôn. Để có được sự phát triển bền vững về lâu dài, cả hai khu vực đều phải cùng phát triển nhanh. Tăng trưởng nông nghiệp cần phải được duy trì mạnh mẽ để việc phân bố lao động giữa các khu vực đi theo hướng tự nguyện chứ không phải do bị ép buộc vì đói nghèo và khốn cùng.

Cần phải cơ cấu lại đầu tư công và dịch vụ công nhằm cân đối đầu tư công khu vực đô thị và nông thôn. Không ai muốn và có lẽ cũng chăng ai có thể chối bỏ quê hương, song nếu mức sống và tiện nghi sinh hoạt giữa đô thị và nông thôn quá khác xa nhau thì nước ta còn chứng kiến những cuộc di dân to lớn hơn nữa hướng ra phố thị. Điều này phá nát đô thị và cũng xô đổ văn hoá nông thôn.

Việc điều tiết lớn lao này không thể do thị trường, đó là trách nhiệm của nhà nước, càng bắt đầu muộn càng thêm tốn kém và thêm bất lực. Chính sách công có một tác động rất lớn để chuyển cơ cấu kinh tế nông thôn từ thuần nông sang đa dạng hơn, nghĩa là người dân nông thôn có nhiều sinh kế mới hơn; điều đó sẽ chèo lái tâm lý dân chúng, giúp họ vì những lợi ích cá nhân mà ở lại nông thôn.

Hệ quả không mong muốn từ bất cập của chính sách đất đai và đầu tư công

Nông nghiệp là tấm gương phản chiếu xã hội của một khu vực mang tính trì trệ tương đối nhưng lại là khu vực dễ bị tổn thương nhất trong quá trình phát triển, đó là khu vực nông thôn.

Cùng được thừa hưởng những thành quả của ‘đổi mới’ mang lại, nhưng với những gì diễn ra ở khu vực này cho thấy nông dân chưa ‘bắt kịp’ với tiến trình đổi mới và mở cửa của đất nước, ‘đi sau’ các khu vực, các giai tầng khác trong xã hội với khoảng cách khá xa.

Hiện nay, theo số liệu năm 2020, tuy giá trị sản xuất nông nghiệp trung bình cả nước đạt 99,5 triệu đồng/ha (tăng 82% so với năm 2010), thu nhập bình quân đầu người/năm ở nông thôn khoảng 41,7 triệu đồng (tăng 3,25 lần so với năm 2010), tỷ lệ hộ nghèo đa chiều ở nông thôn giảm bình quân khoảng 1%/năm và đến hết năm 2020 còn 7,1% (giảm 4,7% so với năm 2016), v.v…

Nhưng vẫn còn đó rất nhiều nông dân có thu nhập trung bình chỉ 0,3 USD/ngày, và nông dân nhìn chung vẫn phải chịu thua thiệt đủ đường so với các cư dân khác. Nguyên nhân chính là do lĩnh vực quan trọng này bị chính sách công “bỏ rơi”, nhà đầu tư nhìn chung ít mặn mà trong việc đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, trong đó có nguyên nhân từ chính sách đất đai, chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn.

Nông dân phải đối mặt với khá nhiều nguy cơ như dịch bệnh, thiên tai, tín dụng đen, giá vật tư nông nghiệp tăng nhanh, giống giả, phân bón kém chất lượng, thuốc bảo vệ thực vật rởm, làng quê ô nhiễm, v.v… Nhưng có những nguy cơ mang tính ‘thời đại’ mà những người dân quê đang phải đối mặt, đó là: nông dân mất ruộng, nông dân chán ruộng, nông dân chán chốn thôn quê.

Ly nông, ly hương, ly tán bất đắc dĩ, những vấn đề xã hội của nông dân có liên quan đến đất đai và sinh kế đang là những vấn đề tiềm ẩn các bất ổn về an ninh chính trị và sự yên bình của đất nước. Ai đó đã có ý kiến rất đúng rằng, muốn dân không mất ruộng, phải xem lại chế độ sở hữu áp dụng đối với ruộng đất của nông dân; Muốn dân không chán ruộng, phải xem lại các chính sách tác động tới giá cả nông sản nhằm giúp nông dân được lợi; Muốn dân không chán quê, phải xem lại ai được lợi từ chi dùng tài chính công.

Xây dựng và phát triển tầng lớp nông dân mới

Cùng với hệ thống chính sách đồng bộ về nông nghiệp, nông thôn, đất đai và đầu tư công, vấn đề sống còn mang tính quyết định đến sự thắng lợi của công cuộc phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM, của Nghị quyết Tam nông mới trong những năm tới là xác định được ‘chân dung’ và từ đó hình thành tầng lớp nông dân mới.

Để có tầng lớp nông dân mới, có 2 vấn đề cốt tử nhất, đó là (i) đào tạo họ thành các nông dân chuyên nghiệp, thích làm ruộng, biết làm ruộng, hạnh phúc với đồng quê, yêu mến và tôn trọng thiên nhiên và dám làm giầu cho minh và cho cộng đồng từ sản xuất-kinh doanh nông nghiệp, và (ii) nhà nước trao quyền cho họ, và cùng họ vận hành các hoạt động sản xuất-kinh doanh nông nghiệp theo cơ chế thị trường định hướng XHCN.

Nghị quyết “tam nông” và vị thế người nông dân - Ảnh 9.

Xây dựng người nông dân thời đại mới hiện đại, chuyên nghiệp và tác phong công nghiệp

Người nông dân mới phải là các nông dân có học và được học, những con người có văn hóa thì mới mong trở thành người nông dân văn minh theo như Nghị quyết của Đảng.

Người nông dân thiếu gì? Họ thiếu thông tin, thiếu kiến thức, thiếu kĩ năng và thiếu được đào tạo để có thái độ đúng, để có đủ kiến thức và kĩ năng ‘làm ruộng’.

Các trường đại học hiện nay, với cách đào tạo gần như những gì đã có từ thế kỷ trước, khó mà có thể đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu đào tạo rất lớn và đa dạng; chỉ có đại học số mới có thể đáp ứng được số lượng người học khổng lồ và nhu cầu cực kỳ đa dạng của kiến thức và kĩ năng của thời chuyển đổi số.

Đại học số sẽ góp phần quan trọng để biến các thanh niên nông thôn (và cả thanh niên không ở nông thôn nhưng yêu mến nghề nông) sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, lớp 9) thành các ‘thanh nông trí điền’, các nông dân chuyên nghiệp của thời chuyển đổi số, thay cho lớp ‘lão nông tri điền’ của một thời chưa xa.

Nhà nước cần có các chương trình, các chính sách phù hợp, tập trung và đủ mạnh để đào tạo thanh niên nông thôn và những người thực sự muốn làm nông nghiệp, coi đó là chính sách phát triển, là đầu tư cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, để có các nông dân chuyên nghiệp, đủ sức làm chủ ruộng đồng, làm chủ công nghệ và kĩ thuật, làm chủ thị trường, đủ sức vươn ra quốc tế, kiểu như là ‘nông dân toàn cầu’ vậy.

Trao quyền cho nông dân, thực ra là trả lại các quyền vốn có của họ, cả theo luật định, theo lẽ tự nhiên và theo phạm trù đạo đức, thể hiện qua các khế ước xã hội giữa nhà nước và người nông dân. Trong thời đại hiện nay, trao quyền cho nông dân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là động lực chính cho phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM để nông dân thực sự là chủ thể, là chủ và làm chủ ruộng đồng, làm chủ nông thôn. Động lực do đất đai mang lại như thời Khoán 10 không còn nhiều nữa; Trao quyền là tạo ra cơ hội, mở ra cơ hội cho người dân thể hiện quyền làm chủ, phát huy sức mạnh của từng người nông dân, từng hộ nông dân, của cả cộng đồng nông thôn.

Ngày xưa, thời HTX kiểu cũ, người nông dân chỉ được làm chủ mảnh đất 5% mà họ đã làm cho mảnh đất ấy đủ nuôi sống họ bươn chải qua những năm tháng cực kỳ khó khăn, đói khát; nay nếu được làm chủ thực sự, làm chủ toàn diện, thì họ sẽ tạo ra sức mạnh rời non lấp biển, tạo ra những bước nhảy vọt trong xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, và khi ấy họ thực sự là những người nông dân thông minh!

Điểm tựa để người nông dân thể hiện và phát huy quyền làm chủ sau khi được trao quyền là thị trường, KH&CN và liên kết các hộ nông dân trong các HTX, trong các nghiệp đoàn nghề nghiệp của họ, vì họ, cho chính họ.

Nghị quyết “tam nông” và vị thế người nông dân - Ảnh 10.

Mô hình trồng hoa sen Huế của Nông dân Việt Nam xuất sắc 2021 Trương Duy Hòa ở thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, Thừa Thiên – Huế. Ảnh: Thúy Trần

Kết luận

Một đất nước muốn phát triển được thì phải có nội lực, biết dựa vào nội lực. Muốn có nội lưc thì phải biết dựa vào trí tuệ thật, các nguồn lực có thật, của chính chúng ta.

Không thể thả mồi bắt bóng, không ai cho không chúng ta các giá trị và nguồn lực phát triển của họ. Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được các kỳ vọng về một dân tộc nhân văn, một quốc gia hùng cường và thịnh vượng, được cộng đồng quốc tế nể trọng và ngưỡng mộ.

Muốn thế, phải biết dựa vào mình, phải bằng chính nội lực của mình; biết tin vào tài năng thật, nguồn lực thật, lợi thế so sánh có thật, hơn là tin vào những mảnh bằng, những chứng chỉ, hay điểm số của các bài kiểm tra! Sức mạnh thật của một quốc gia không phải là phép cộng đơn thuần của trí tuệ và nguồn lực của từng cá nhân, mà đó là do sự cộng năng (synergetic) cả một hệ thống trí tuệ và các nguồn lực của toàn dân.

Vì vậy, thực tế nhất là quay về với sức mạnh nội tại, với lợi thế so sánh của đất nước này, đó là CNH, HĐH đất nước từ nông nghiệp, bằng nông nghiệp; CNH, HĐH đất nước, trước hết và cơ bản là CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, chứ không phải bằng phát triển các cực tăng trưởng với những thành phố công nghiệp hàng chục triệu dân với niềm tin là các thành phố đông đúc này, các trung tâm công nghiệp to lớn này sẽ dẫn dắt cả nước đi lên.

Đô thị hóa cũng thế, đô thị hóa phải gắn với phát triển nông thôn, đô thị hóa nông thôn. Đô thị hóa nông thôn không phải là bê mô hình nhà ống, các biệt thự từ phố thị về thôn quê mà là tạo ra các sinh kế mới phi nông nghiệp cho nông dân, tạo ra điều kiện sống như đô thị, tạo cơ hội cho một người dân nông thôn như một người dân đô thị, tạo cơ hội cho mọi đứa trẻ sinh ra ở nông thôn cũng có cơ hội phát triển như một đứa trẻ sinh ra ở đô thị.

Xen lẫn thôn quê, các vùng nông nghiệp, các vùng nguyên liệu là các thành phố, các đô thị xanh hiện đại, văn minh, đẹp chỉ với một vài triệu dân, với các nhà máy chế biến nông sản, trung tâm thu mua nông sản, tạo ra các vùng lõi đô thị trong nông thôn. Phải chăng, đô thị hóa nông thôn là vậy?

Không ít các quốc gia đã trở lên giầu có và hùng cường nhờ biết chọn điểm tựa là nông thôn, nhờ biết chọn khâu đột phá là kinh tế nông nghiệp, đó là nền kinh tế nông nghiệp dựa trên tư duy công nghiệp, tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ theo ‘kiểu công nghiệp’, ở đó người ta gọi một ngành sản xuất nông nghiệp nào đó là ‘công nghiep’ nông nghiệp (agricultural industries) như ngành sản xuất (bao gồm cả chế biến và tiêu thụ) lúa gạo là Rice Industry, ngành sản xuất nho và rượu vang là Grape Industry, hay ngành chăn nuôi lợn là Pig Industry… Sự phát triển của các ngành ‘công nghiệp’ này dựa vào 3 trụ cột chính (i) Đổi mới sáng tạo được tôn vinh để luôn tạo ra và làm chủ các công nghệ vượt trội, (ii) Chuyên môn hóa cao, chuyên nghiệp hóa cao, và (iii) Quản trị hệ thống tiên tiến.

Ở một đất nước, khi nói đến Nhân dân là nói về Nông dân như Việt Nam, Nghị quyết Tam nông mới rất cần được viết với tâm thức tri ân và tôn trọng nông dân, người chủ đích thực của nông thôn và nông nghiệp, xuất phát từ ước nguyện, khát vọng và điều kiện, hoàn cảnh của họ, chắc chắn sẽ được nông dân và các tầng lớp xã hội khác đón nhận; Từ đây sẽ hình thành và phát triển đội ngũ những người nông dân mới, nông dân thông minh, nông dân của thời chuyển đổi số.

Một khi được trao quyền với các khế ước xã hội tạo động lực của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, họ sẽ khởi tạo nên một thời đại mới của nông nghiệp Việt Nam, của nông thôn Việt Nam; họ sẽ đủ sức hiện thực hóa Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thành sức mạnh vật chất trên ruộng đồng, trong mỗi làng mạc và ở từng ngôi nhà của nguoi nông dân.

Họ là những người nông dân hạnh phúc!

Nguồn: http://www.datviet.vn

Check Also

cuoc-song-hanh-phuc-cua-2-san-phu-tung-phai-tho-chung-1-may-ecmo

Cuộc sống hạnh phúc của 2 sản phụ từng phải thở chung 1 máy ECMO

Bác sĩ Vũ Đình Ân bồng bé Chung Ân (con chị Thu Trinh) trong dịp …

Leave a Reply

%d bloggers like this: